<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lưu trữ Tản mạn về Sài Gòn - sachxuasaigon.com</title>
	<atom:link href="https://sachxuasaigon.com/category/tan-man-ve-sai-gon/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://sachxuasaigon.com/category/tan-man-ve-sai-gon/</link>
	<description>Một trang web mới sử dụng WordPress</description>
	<lastBuildDate>Thu, 19 Dec 2019 15:54:32 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/3050-100x100.jpg</url>
	<title>Lưu trữ Tản mạn về Sài Gòn - sachxuasaigon.com</title>
	<link>https://sachxuasaigon.com/category/tan-man-ve-sai-gon/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Sài Gòn Chợ Lớn &#8211; Những điều bạn chưa biết.</title>
		<link>https://sachxuasaigon.com/sai-gon-cho-lon/</link>
					<comments>https://sachxuasaigon.com/sai-gon-cho-lon/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[sachxua]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 19 Dec 2019 15:53:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tản mạn về Sài Gòn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://sachxuasaigon.com/?p=191</guid>

					<description><![CDATA[<p>Khi nhắc đến Sài Gòn, các nhà sử học thường nói: “Sài Gòn có lịch sử hơn 300 năm. Thuở hình thành cách đây 300 năm, Sài Gòn chỉ bắt đầu từ một xóm nhỏ có diện tích hơn 1 km2 bắt đầu từ ven kênh Tàu Hũ. Và người ta gọi đó là Chợ [...]</p>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/sai-gon-cho-lon/">Sài Gòn Chợ Lớn &#8211; Những điều bạn chưa biết.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Khi nhắc đến Sài Gòn, các nhà sử học thường nói: “Sài Gòn có lịch sử hơn 300 năm. Thuở hình thành cách đây 300 năm, Sài Gòn chỉ bắt đầu từ một xóm nhỏ có diện tích hơn 1 km2 bắt đầu từ ven kênh Tàu Hũ. Và người ta gọi đó là Chợ Lớn.</p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class="alignnone wp-image-193 size-full" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon.jpg" alt="Sài Gòn chợ lớn" width="1453" height="1200" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon.jpg 1453w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon-300x248.jpg 300w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon-1024x846.jpg 1024w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon-768x634.jpg 768w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon-600x496.jpg 600w" sizes="(max-width: 1453px) 100vw, 1453px" /></p>
<h2><span style="font-size: 23.04px;">Lịch sử hình thành Sài Gòn Chợ Lớn</span></h2>
<div class="detail-content">
<div id="detail-content-info">
<p>Từ trước năm 1698, ở Đề Ngạn (mà sau này gọi là Chợ Lớn) đã có làng Minh Hương của người Hoa (vì không thần phục nhà Thanh, họ đã rời bỏ Trung Quốc sang định cư ở miền Nam Việt Nam). Tuy nhiên, vùng đất ấy trở nên đông đúc kể từ khi người Hoa ở Cù Lao Phố (tức Biên Hòa ngày nay) chạy tới đây lánh nạn sau khi nơi ở của họ bị quân Tây Sơn tàn phá năm 1776 .</p>
<p>Rồi do nhu cầu, người Hoa lập chợ (hay phát triển chợ có đã từ trước) để trao đổi hàng hóa. So với chợ Tân Kiểng của người Việt thì chợ Sài Gòn (khu vực Bưu điện Chợ Lớn ngày nay) có lớn hơn nên được người dân gọi là Chợ Lớn. Sau đó, tên chợ cũng được dùng để chỉ vùng đất mà nó tọa lạc. Theo học giả Vương Hồng Sển, thì &#8220;Chợ Lớn như nay ta còn gọi, đối với Hoa kiều là Thầy Ngôồn (Đề Ngạn) hay Xi Cóon (Tây Cống); còn sách cũ Pháp viết là Cholon hay Cholen, Cho Leun&#8221;.</p>
<p>Chợ Lớn do người gốc Hoa thành lập năm 1778, nằm gọn trong khu vực từ đường Tản Đà tới Kim Biên và từ Nguyễn Trãi xuống kênh Tàu Hủ. Năm 1782, kết thúc giao tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, khu vực này bị tàn phá. Những tưởng Chợ Lớn sẽ đi vào dĩ vãng, nhưng ít lâu sau người gốc Hoa từ Cù lao Phố (Biên Hòa) di cư xuống đã xây dựng lại một Chợ Lớn sung túc và nhộn nhịp hơn. Khi Chợ Lớn ra đời, phía Quận 1 (Thành phố Sài Gòn, thuộc thành Gia Định vẫn chưa được hình thành).</p>
<p>Khi Pháp chiếm Nam Kì, ngày 6/6/1865 đô đốc Roze kí quyết định thành lập thành phố Chợ Lớn. Danh từ Chợ Lớn được dùng đặt làm Thành phố. Ngày 1/7/1882, tuyến đường xe điện đầu tiên ở Việt Nam dài 5 kilômét, rộng 1 mét, nối Sài Gòn và Chợ Lớn bắt đầu hoạt động.</p>
<p>Đến năm 1930, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn đã giáp nhau ở chỗ nay là đường Nguyễn Văn Cừ và Nguyễn Thiện Thuật. Ngày 27/4/1931, chính quyền Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là Khu Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn.</p>
<p>Năm 1951, Khu Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn đổi thành Đô thành Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn và đến năm 1956 đổi thành <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/">Đô thành Sài Gòn</a>. Kể từ đây, địa danh “Chợ Lớn” chỉ còn được dùng để chỉ toàn bộ khu vực Quận 5, Quận 6 và một phần Quận 11 của Sài Gòn. Trong đó Quận 5 và Quận 6 là khu vực sinh sống chủ yếu của cộng đồng người Việt gốc Hoa tại Tp.HCM ngày nay.</p>
<p><img decoding="async" class="wp-image-194 size-full aligncenter" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon5.jpg" alt="Sài Gòn chợ lớn" width="615" height="567" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon5.jpg 615w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon5-300x277.jpg 300w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cholon5-600x553.jpg 600w" sizes="(max-width: 615px) 100vw, 615px" /></p>
<p>Chợ Lớn là nơi duy nhất tại <a href="https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/">Sài Gòn</a> còn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa, kiến trúc và tôn giáo của hàng trăm năm trước. Nếu như những giá trị văn hóa, lịch sử cùng thời gian ít nhiều cũng bị mai một, thế nhưng với nơi đây dường như sức phá hủy của thời gian chậm lại rất nhiều.</p>
<p>Trên những mái nhà lợp ngói ống ở dãy phố, bụi thời gian nhuốm chút màu nâu xám rất đẹp, vẻ đẹp ấy cùng với kiến trúc đặc trưng nơi đây phảng phất một nét đẹp rất cổ điển.</p>
<p>Khách viếng thăm mỗi khi ghé qua đều giật mình tự hỏi, liệu đây có phải là quang cảnh của những năm cuối thế kỷ 20 hay không? hoặc cảm giác như mình đang hiện diện trong khu phố cổ nào đó vào những thế kỷ trước?</p>
<p>Chợ Lớn là nơi duy nhất tại Sài Gòn còn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa, kiến trúc và tôn giáo của hàng trăm năm trước. Nếu như những giá trị văn hóa, lịch sử cùng thời gian ít nhiều cũng bị mai một, thế nhưng với nơi đây dường như sức phá hủy của thời gian chậm lại rất nhiều.</p>
<p>Trên những mái nhà lợp ngói ống ở dãy phố, bụi thời gian nhuốm chút màu nâu xám rất đẹp, vẻ đẹp ấy cùng với kiến trúc đặc trưng nơi đây phảng phất một nét đẹp rất cổ điển.</p>
<p>Khách viếng thăm mỗi khi ghé qua đều giật mình tự hỏi, liệu đây có phải là quang cảnh của những năm cuối thế kỷ 20 hay không? hoặc cảm giác như mình đang hiện diện trong khu phố cổ nào đó vào những thế kỷ trước?</p>
<p>Ngày nay, Chợ Lớn vẫn được biết đến là khu của đồng bào người Hoa sinh sống và buôn bán. Nét văn hóa đặc trưng vẫn còn hiện rõ trong từng nếp nhà, từng con người, và phong cách sống của người dân ở Chợ Lớn.</p>
<p>&nbsp;</p>
</div>
</div>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/sai-gon-cho-lon/">Sài Gòn Chợ Lớn &#8211; Những điều bạn chưa biết.</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://sachxuasaigon.com/sai-gon-cho-lon/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu vì sao có tên gọi là Sài Gòn? [Phần 3]</title>
		<link>https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/</link>
					<comments>https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[sachxua]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 18 Dec 2019 15:13:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tản mạn về Sài Gòn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://sachxuasaigon.com/?p=158</guid>

					<description><![CDATA[<p>Dù có nguồn gốc từ đâu thì cái tên gọi Sài Gòn nó rất đẹp, dễ đọc, dễ nhớ trong bất cứ ngôn ngữ nào. Ví dụ, tiếng Pháp, tiến Đức bạn đọc ra vẫn vậy. Qua đó ta thấy được cái vĩ của người xưa khi chọn tên gọi Sài Gòn. Thử tìm hiểu [...]</p>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/">Tìm hiểu vì sao có tên gọi là Sài Gòn? [Phần 3]</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Dù có nguồn gốc từ đâu thì cái tên gọi Sài Gòn nó rất đẹp, dễ đọc, dễ nhớ trong bất cứ ngôn ngữ nào. Ví dụ, tiếng Pháp, tiến Đức bạn đọc ra vẫn vậy. Qua đó ta thấy được cái vĩ của người xưa khi chọn tên gọi Sài Gòn.</p>
<h2>Thử tìm hiểu vì sao có tên gọi Sài Gòn.</h2>
<p>Về tên gọi “SÀI GÒN” Đại Nam Quốc Âm Tự vịcủa Huỳnh Tịnh Của viết: __:Sài tức là củi thổi. __:Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi làcây bông gạo (kapok, kapokier).</p>
<p>Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành“Sài Gòn” đều viết hai chữ nôm như vầy _________. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn đọc là“Sài Gòn”. Về sau, có nhiều người, đọc“Sài Côn”, tưởng rằng đúng. Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên làVõ Tánh , vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông làVũ Tính . Lại như tên một trái núi trên Biên Hòa, thuở nào đến nay, quen gọi là“núi Châu Thới”. Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán“Sài” ____ với một chữ Nôm&#8221;Gòn&#8221; _____làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi, tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ“gòn” không biết phải viết làm sao, thì ông bà cứ mượn chữ“côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!</p>
<p>Cũng trong Tự Vị ông Huỳnh Tịnh Của, còn thấy ghi hai chỗ khác nhau về tên gọi Sài Gòn: Sài Gòn:tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé (trang 280 quyển II). Sài Gòn:tên xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I). Tôi xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc này. Điều nên chú ý liền đây là bộ Tự vị Huỳnh Tịnh Của in vào năm 1895-1896 cho ta thấy rõ đời ấy đã có sự lẫn lộn về danh từ “Sài Gòn” rồi. Để tìm hiểu sâu rộng và muốn biết rành rẽ về nguồn gốc tích “SÀI GÒN”, phải dày công phăng từ ngọn ngành, căn cội và chịu khó tra cứu từng các dân tộc một, đã sống qua các thời đại trải không biết mấy ngàn năm và thay nhau khai thác cõi Nam này: 1) người Phù Nam, 2) người Cam Bốt, 3) người Tàu, 4) người Việt. 1. Trước hết, từ giống người Phù Nam[18] Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, thì có giống người Phù Nam chiếm cứ sơ khởi vùng gọi Phù Nam. Đất Phù Nam sau đổi lại là “Thủy Chân Lạp” (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phân biệt với đất Lục Chân Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge). THỜI ĐẠI NÀY, ĐẤT THỦY CHÂN LẠP CÒN LÀ RỪNG RẬM SÌNH LẦY, THÀNH  SÀI GÒN CHƯA CÓ. Khoảng năm 1943 – 1944, nhà học giả Pháp, ông Louis Malleret nhân danh là hội viên trường Viễn Đông Bác cổ và Giám đốc viện Bảo tàng Sài Gòn có thân hành đến chặng giữa đường Long Xuyên đi Rạch Giá, noi dấu bọn thổ dân đã đến chỗ này nhiều tháng trước để bòn vàng&#8230; Nơi đây, ông tìm ra di tích một nền cổ Phù Nam bị chôn vùi dưới đất từ ngàn xưa. Ông có đem về Viện Bảo tàng rất nhiều món đồ nữ trang, cổ vật, trang sức phẩm và rất nhiều tài liệu cổ có chơn giá trị về lịch sử (đồ đất nung, dót nấu kim khí, miểng bát chén, phao lưới, trái trì lưới (poids de filet), cục đá căng nặng xe chỉ sợi (fusaiolus), v.v&#8230;), hiện các vật này trưng bày làm một gian phòng riêng biệt trong Viện Bảo tàng Sài Gòn. Nhờ đó, ta biết được cội đất nước ta và biết tại đây xưa kia vào thế kỷ thứ hai, người dân La Mã đã tìm theo con đường biển thả tàu buồm đến đây và đã từng đặt chân trên đát này cũng như họ đã từng giao thiệp chặt chẽ cùng thổ dân bản xứ.</p>
<p>Họ (người La Mã, Ấn Độ di cư, Mã Lai, Phù Nam, v.v&#8230;) qua lại đổi chác với nhau, tỷ như vàng khối xứ Chiêm Thành (l’or du Cathay), lụa Trung Quốc (soie de Chine), hoặc hương liệu (épices): sa nhân, đậu khấu vùng Khmer (núi Cardamomes rất gần). Đặc biệt nhất là có một đồng vàng tìm được tại chỗ và đó là một tài liệu quý hóa nhất chứng minh cho thuyết nói trên. Đồng vàng ấy mang dấu hiệu của vua Antonin le Pieux, sinh năm 86 và trị vì tại La Mã từ năm 138 đến năm 161 Tây lịch kỷ nguyên. Hiện thời, các nhà thông thái tạm lấy chỗ tìm được cổ vật mà đặt tên cho các vật tìm thấy, gọi đồ thuộcvăn minh Óc-Eo. (theo chính tả Việt Ngữ. Nếu viết theo Phạn tự và theo giọng Khmer thì là ÂK EV). Nay Óc-Eo thuộc về làng Mỹ Lâm, tổng Kiên Hảo, giáp ranh hai tỉnh Long xuyên và Rạch Giá. Từ năm 1945 có chiến tranh, sự giao thông bất tiện, thêm thiếu điều kiện bảo thủ canh gác nên người tại chỗ đã đào đã hôi rất nhiều&#8230; Khó mà tiếp tục sưu tầm, tiếc thay![19] 2. Nối chân Phù Nam trên vùng Thủy Chân Lạp là người Cam Bốt. Không nói đâu xa, từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Cam Bốt đã có mặt tại vùng Sài Gòn lâu rồị Nhưng họ không khai thác chi cả. Họ chỉ ăn hoa lợi tự nhiên: thú rừng, lâm sản; lá lợp nhà, cây làm củi, v.v&#8230; Bằng cớ hiển hiện là khi lọt về tay người Việt, Sài Gòn vẫn là một thôn quê rừng, ruộng, vô danh.</p>
<p>Nghiệm ra rằng người Khmer sanh đẻ tại Nam Việt, phát âm không giống y giọng Khmer trên Nam Vang. Tình trạng này có thể so sánh lại với tình trạng người Việt vùng Cà Mau Bạc Liêu giọng nói vẫn khác giọng Sài Gòn hoặc giọng Hà Nộị Đối với tiếng Khmer, trên Nam Vang, dùng nhiều chữ “r” có thể nói mỗi tiếng nói, gần như mỗi có đánh lưỡị Trái lại miền Nam Lục Tỉnh, dân Khmer nuốt gần mất chữ “r”. Tỷ dụ trên kia nói “Préam riet” (là 5 đồng bạc) thì dưới này họ nói “Péam yiel”, v.v&#8230; chưa quen tai, không hiểu họ muốn nói gì. Bởi rứa, về tên gọi “Sài Gòn” đối với người Cam Bốt, khi họ gọi: a)Prei Kor (nếu họ là người Nam Vang) b)Prei Nokor hoặc c) Pẹi – ừ – Ko (nếu họ là người Khmer Lục Tỉnh) d) Pẹi &#8211; ằng – ko Khiến người Việt ta điếc con ráy và&#8230; khó phân biệt được.</p>
<p><img decoding="async" class="aligncenter wp-image-160 size-full" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-2.jpg" alt="tên gọi Sài Gòn" width="500" height="641" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-2.jpg 500w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-2-234x300.jpg 234w" sizes="(max-width: 500px) 100vw, 500px" /></p>
<p>Và trong bốn cách phát âm trên, tưởng cần ghi lại hai cách Nam Vang, có phần khoa học, đáng tin cậy hơn, nhưng trong hai cách ấy cũng chưa phân biệt cách nào đúng nghĩa của người xưa. Prei, prey: rừng, không còn ai chối cãi. Kor: Kô, Ku: có hai nghĩa khác hẳn nhau: Khi “kor” làgòn , Prei-kor là “Rừng gòn”. Khi khác thì“Kor”:“Kũ”: boeuf, Prei-Kor tức là “Rừng bò”? Có một tỷ dụ: Bockor: bâuk kũ: boeuf à bosse: bò u. Cố Tandart, sành về Miên ngữ, lại cắt nghĩa: Nokor do “Nagaram” tiếng Nam Phạn (Pâli), đồng nghĩa với chữ “thành” Việt Hán tự trong các danh từ: thành thị, đô thị (cité); thành phố (ville). Một tự vị Miên Pháp nữa dịch: Nokor: royaume: quốc. Vậy thì: Prei-Nokor là lâm quốc.</p>
<p>Các thuyết trên cho phép ta định chừng“Nokor” là giọng kinh chợ, giọng các nhà hay chữ thông thái trên Nam Vang, chớ người Khmer&#8230; miền lục tỉnh, nước phèn cứng lưỡi, quen nói trại bẹ, thuở nay, để ám chỉ Sài Gòn, họ dùng một danh từ lơ lớ nghe tương tự “Pei-ừ-ko” hay “Pẹằng-ko” không rõ chắc được.</p>
<p>Bằng như có ai hỏi họ sát đề quá, để tránh cái khó, họ dùng một danh từ khác, rõ rệt không còn chối cãi và lầm lộn nữa, ấy là danh từ “srock yuong” ta âm ra “Sốc Duồng” để chỉ xứ Sài Gòn.[21]Lấy theo điểm này và căn cứ hai chữ nên thơ “Srock yuong”, thì người Cam Bốt tự ngàn xưa đã ngấm ngầm nhìn nhận đất Sài Gòn là lãnh thổ Việt Nam không chối được. Dân Khmer Lục Tỉnh là người trí óc mộc mạc chất phác, người củi lục làm ăn, không biết nói láo và không biết ngụy biện! Do các thuyết Lang sa kể trên, ta có thể kết luận: Dưới thời đại cam-bốt-diên, Sài Gòn là nước, xứ ở giữa rừng (Prei Mokor ). Vịn theo thuyết này danh từ “Sài Gòn”, trước định do “Prei Nokor” là “rừng gòn” không vững[22]. Nay nên dịch “lâm quốc” đúng hơn. Tóm lại. danh từ “Sài Gòn” không ắt do điển “Prei Nokor” mà có. 3. Theo dấu người Tàu, năm 1680 đến miền Nam, năm 1778 lập Đề Ngạn. Từ 1680, đã có dấu chân Hán tử trên dãy đất miền Nam nhưng họ lui tới đông đảo trên vùng Sài Gòn nhất là từ năm 1778.</p>
<p>Cứ theo thuyết này, người Tàu dùng thuyền buồm chuyên chở hàng hóa, tơ lụa, trái cây khô và tươi v.v&#8230; của xứ họ qua dự trữ tại Cù lao Phố (Biên Hòa). (22) (Mãi về sau, họ vẫn dùng thuyền cây chạy buồm để chở lúa gạo, cá khô, trầm hương của Nam Việt qua Trung Quốc, và bận trở về Nam nếu không đủ tơ lụa hàng hóa, họ còn có sáng kiến chở đá, gạch, đồ gốm, để vừa cho thuyền đủ sức khẳm sóng ít nhồi, vừa có đủ đồ dùng để xây cất chùa chiền tại Việt Nam y một thể thức như bên xứ họ). Vào thời ấy, người Tàu vẫn là những tay lợi hại và đắc lực ám trợ mọi cách và cả hai bên vào các cuộc nội loạn miền Nam. Có thể nói hễ họ dựa vào bên nào là bên ấy có phần chắc thắng địch thủ dễ dàng. Dân chúng nể uy danh họ và kiêng sợ võ lực bạo tàn của họ, thậm chí các tay lãnh tụ đương thời: Nhạc, Huệ, Nguyễn Ánh cũng lợi dụng họ để mượn thế “lấy giáo Tàu đâm Chệc” cho họ sát hại lẫn nhau bớt. Xét ra đời nào cũng có họ ám trợ ta chống lại Trung Quốc với danh nghĩa “di thần Minh Mạt”, họ là người gốc Hán tộc lại “tả” rất sướng tay lính để đuôi sam Mãn Thanh và biết đâu chừng, trong trận Đống Đa, há chẳng có quân sĩ Tàu hươi mã tấu ám trợ vua Quang Trung đánh giặc Chệt!</p>
<p>Cũng như dưới danh từ hội kín, như gần đây có “Thiên Địa Hội”, nào “Nghĩa Hòa Đoàn”, nào “Nghĩa Hưng Đoàn”, từ ngàn xưa họ đã từng làm mưa làm gió một thời và đánh giặc mướn cho cả hai phe, khi theo chúa Nguyễn Ánh, khi theo Tây Sơn Nhạc Huệ và về sau cùng, thì có họ núp dưới bóng cờ Đen, trợ giúp triều đình Huế chống quân đội Pháp thời Tự Đức, và núp dưới hiệu lịnh “Tư Mắt, Phan Xích Long” phá khám cũ Sài Gòn và làm phản chống chánh phủ Đô hộ Pháp lối 1914-1915. Anh hùng bất đắc chí, sẵn tánh phiêu lưu, họ cư xử không khác các nhân vật, các “đại ca” trong truyện Tàu bất hủ, khi làm tướng cướp khi lại tế khổn phò nguy! Nhưng cũng bởi tánh ăn ở không minh bạch, nên khi Tây Sơn nổi dậy (1773), kéo cờ bách thắng vào Nam, thuận tay, họ bèn quét đuổi quân Tàu ra khỏi Cù lao Phố (Biên Hòa) là nơi tàn quân Minh đến lập cơ sở từ năm 1680.</p>
<p>Khi ấy, những khách thương Tàu mất chỗ bèn rút lui theo con sông Tân Bình (Bến Nghé), họ nhắm xem địa thế, cân nhắc kỹ càng thiên thời địa lợi và sau rốt họ lựa vùng đất ở giữa chẹn đường Mỹ Tho đi Cù lao Phố mà xây dựng tân sở, tân sở này sau trở nên thành phố Chợ Lớn ngày nay vậy. Tác giả Grancis Garnier, quả quyết: THỊ TRẤN CHỢ LỚN DO NGƯỜI TÀU TẠO LẬP VÀO NĂM 1778 ĐÂY THÔI. Thị trấn này vừa phát đạt chưa được bốn năm năm đến 1782, thì ngộ nạn lớn: năm ấy, chúa Tây Sơn Nguyễn Văn Nhạc đánh lấy được thành Phan Yên (Gia Định), thừa cơ làm cỏ sạch người Tàu một phen nữa (Sở dĩ Tây Sơn giận dai như thế, theo một giả thuyết tôi được nghe gia nghiêm kể lại, có lẽ một phần do hậu quả những cờ gian bạc lận giữa các tay tổ Tàu và Biện Nhạc năm xưa, một phần khác quan trọng hơn, là lại đã không tiếp tay chống Nguyễn Ánh mà còn tiếp tế lương phạn, v.v&#8230;).</p>
<p>Sau trận giặc 1782, theo Trịnh Hoài Đức thuật lại, thì hàng hóa các tiệm buôn Tàu như trà, vải lụa, thuốc men, hương liệu, giấy má đủ loại bị tuôn ra bỏ bừa bãi lềnh khên ngập đường sá, hèn lâu như vậy mà không ai dám rớ dám mót lượm về xài. Qua năm 1783, giá hàng hóa vụt lên mà ngợp: kim may mỗi cây một lượng bạc, trà Tàu tám quan tiền một cân,&#8230; Còn nói chi số binh sĩ và thường dân Tàu bị chết đâm chết lụi kể trên số muôn, thậm chí thây ma lớp nằm chật đất, ngổn ngang từ vàm<br />
17<br />
Bến Nghé đến tận kinh Chợ Lớn, lớp khác bị chuồi xuống nước, xác ma da, thằng chỗng kẹo lềnh một khúc sông, làm cho ngót ba bốn tháng trường, dân nghe nhắc mà ớn xương sống không dám rớ đến miếng thịt xương thịt cá!</p>
<p>Nhưng người Tàu quả là giống dân giàu tính nhẫn nại nhất thế giới: tính coi họ thất bại to tát làm vậy mà họ không bỏ cơ sở làm ăn. Ít lâu sau họ gầy dựng lại cơ sở Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn trước bá bội. Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới tạo lập, cẩn đá thêm cao ráo và kiên cố. Và có lẽ để ghi nhớ công trạng này họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồnn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Tai-Ngon”, “Tin-Gan”, “Thầy Ngồnn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn”: Đề, Đê: là cái bờ, cái đê ngăn nước. Đề:cũng có nghĩa là nắm lấy (Đề cương khiết lãnhlà nắm lấy cái dây lớn của cái lưới, tức nhiên cả cái lưới sẽ trương ra; kéo cái cổ áo thì cả chiếc áo nhấc lên. Nghĩa bóng:nắm lấy chỗ chủ yếu . Kể ra khi đi lựa địa thế, đã là đặt cả một hy vọng lớn rồi.) Ngạn:bờ sông cao dốc. Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay vậy (truy ra là xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế, miếu Tam Hội).</p>
<p>Còn khi khác nữa, họ dùng danh từ “Tây Cống” mà họ phát âm nghe “Xi-cóon” hoặc “Xây-cóon” (theo giọng Quảng). Theo ý tôi đây là cách phát âm giữa người Tàu với nhau để ám chỉ vùng đất mà người Pháp hiểu là “Sài Gòn” ngày nay, vùng ghi theo tiếng &#8220;Sài Gòn&#8221; do giọng Tàu, vùng của người Việt ăn và ở, vùng ấy tức là vùng chợ cũ Sài Gòn, ngót trăm năm về trước, xưa kia thuở Nam Triều gọi là &#8220;Chợ Vải&#8221;, thuộc khu phố lầu chung quanh Tổng Ngân khố ngày nay: đường Nguyễn Huệ, Ngô Đức Kế, Võ Di Nguy, Phủ Kiệt, ăn lan ra phố Kinh lấp (Hàm Nghi), v.v&#8230; và đây là cách nhái giọng nói, nhại tiếng “Sài Gòn” của ta, chớ không đúng theo chữ viết sẵn _________. “Xi-cóon” giọng Quảng viết ra Hán tự thành “Tây Cống” như vậy là chắc chắn rồi! Xin đừng hiểu theo một văn sĩ trẻ, giàu óc tưởng tượng nhưng túng đề, ghi trên tạp chí “Phổ thông” độ nọ cắt nghĩa “Tây Cống” là thành trì của vua Tự Đức ngày xưa cống hiến cho Tây!Tôi không theo phái bảo hoàng nhưng tưởng viết làm vậy, nhơ ngòi bút, nhục quốc thể, người nước ngoài cười; thêm đắc tội với tiền nhân.</p>
<p>Tóm lại: Tây Cống ________, Xi-cóon, là xóm Việt, Sài Gòn của người Nam, không phải xóm Tàu trong Chợ Lớn, tức Thầy-Ngồnn, chữ viết đọc là Đề Ngạn. Có ý nghe người Tàu khi nói chuyện với nhau, khi rủ đi chơi vùng “Sài Gòn”; họ nói gọn lỏn “hui Cái Xị”, mà “Cái Xị” ở dây là “nhai thị” tức “chợ”, hoặc giả họ nói “xánh cái xị” là “tân nhai thị”, tức là “chợ mới”(chợ Việt mới). Khi nào muốn ám chỉ Chợ Lớn Tàu, họ lại dùng danh từ “Thầy Ngồnn”, là Đề Ngạn vậy. Việt – ta nói: SÀI GÒN. Tàu – họ nói: THẦY NGỒỒN, XÌ CỤN. Ai muốn hiểu thế nào thì hiểu! Gần đây hơn hết, khi hai đô thị sát nhập làm một “Tây Cống dồn với Đề Ngạn làm một khối duy nhất”, Tàu họ dùng một danh từ hết sức gọn và sáng, ấy là Tây Đề. Trở lại dấu vết tổ tiên Việt. Cái lộn xộn rắc rối làm cho ngày nay chúng ta điên đầu khó biết địa điểm đâu là Sài Gòn chính thức, truy ra, cũng tại Lang sa mà có!</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-159 size-full" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-1.jpg" alt="Tên gọi Sài Gòn" width="580" height="454" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-1.jpg 580w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-xua-va-nay-1-300x235.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 580px) 100vw, 580px" /><br />
1.<a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/">Thành Sài Gòn</a> do Minh Mạng dạy xây năm 1836, vị trí ở gần Ba Son. 2.Chợ Bến Thành (ở gần bến và thành) phân ra hai chợ: a. Chợ Cũ ở chỗ Tổng Ngân Khố ngày nay, do Chợ Vải ngày xưa Tây cất lại bằng gạch và sườn kèo sắt, phá bỏ năm 1913. b. Chợ Mới là chợ ngày nay quen gọi Chợ Mới Bến Thành, Tàu gọi &#8220;Tân Nhai thị&#8221; hay vỏn vẹn &#8220;Cái Xị&#8221;, khởi công năm 1912, đến tháng 3 năm 1941, chợ cất rồi, ăn lễ lạc thành, tiếng đồn rùm beng có cộ đèn, chưng cộ bảy bang, xe bông, hát ngoài trời v.v&#8230;; các bài báo viết mừng bài &#8220;mừng lễ khai tân thị&#8221; xướng họa không dứt. 3. Hai vùng này gộp lại có tên là Bến Nghé. Trong lúc ấy thì người Tàu dùng danh từ “Thầy Ngồnn” (Đề Ngạn) để gọi vùng buôn bán “Chợ Lớn” và danh từ “Xi-Cóon” (Tây Cống) để ám chỉ xóm Việt tức chợ Bến Thành (từ xưa đến 1919 sự buôn bán vẫn nằm trong tay Hoa kiều, người Việt bắt đầu qua nghề thương mãi chỉ từ 1920 về sau). Kịp đến buổi Tây qua, đứng trước danh từ “Bến Nghé” và “Sài Gòn” thì hai chữ “Bến Nghé” đối với Tây líu lưỡi khó nói quá, nên chỉ sẵn uy lực kẻ chiến thắng trong tay, Tây bèn ép các sắc dân Nam, Chà, Chệc đều phải bỏ danh từ “Bến Nghé”, và để thay vào đó, Tây ép dùng hai tiếng “Sài Gòn”[23], vừa kêu giòn, vừa dễ đọc (cũng như họ đã đọc và nói “Cholen” thay vì “Chợ Lớn”, rồi đọc và nói “Da Kao” thay vì “Đất Hộ”. Dân ta bắt chứơc theo mà còn ăn nói mạnh dạn hơn nữa, cho đến ngày nay họ đi rồi mà các danh từ ngoại lai này chưa hết hẳn). Một lúc, để chọn tên dặt cho kinh đô Nam Việt, Tây đã nghĩ đến danh từ “Gia Định” nhưng họ lại chê là di tích cựu trào, khêu gợi chuyện xưa nên họ không dùng. Kế đó, họ muốn chọn danh từ “Bà Chiểu”, nhưng họ cũng không thâu nhận vì “Bà Chiểu” như “Gia Định” là tên cũ của trào xưa, họ cố tránh, lại nữa “khi viết lại viết tháu, hoặc dùng gởi điện tín, sợ e có khi đọc hiểu lầm là “Bạc Liêu”thì khốn”.</p>
<p>Tóm lại, tên gọi <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/">“Sài Gòn”</a> trở nên bất tử vì người Việt, người Tàu trong lúc đàm thoại với Lang sa hoặc viết thơ hay ký giao kèo với họ; một nửa chiều ý người mới, một nửa “nịnh Tây”, bèn dùng luôn tên gọi“Sài Gòn” thay thế danh từ “Bến Nghé”, lâu ngày quen tai quen mắt và càng phổ biến rộng thêm mãi, khiến nên “Sài Gòn” đã soán ngôi “Bến Nghé” và “Bến Nghé” thỉnh thoảng chỉ còn nghe nói trong giới người cố cựu đất Gia Định chính cống mà thôi.</p>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/">Tìm hiểu vì sao có tên gọi là Sài Gòn? [Phần 3]</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://sachxuasaigon.com/vi-sao-co-ten-goi-la-sai-gon/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 2</title>
		<link>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/</link>
					<comments>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[sachxua]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 17 Dec 2019 16:07:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tản mạn về Sài Gòn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://sachxuasaigon.com/?p=134</guid>

					<description><![CDATA[<p>Để hiểu thêm về lịch sử cũng như văn hóa Sài Gòn, chúng ta cùng tiếp tục tìm hiều về Tản mạn Sài Gòn nhé. 2. Từ năm 1753 đến năm 1780 Tản mạn Sài Gòn Xin kể lại những năm oanh liệt nhất để đánh dấu những kỳ công của tổ tiên ta: Năm [...]</p>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/">Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 2</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Để hiểu thêm về lịch sử cũng như <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/">văn hóa Sài Gòn</a>, chúng ta cùng tiếp tục tìm hiều về Tản mạn Sài Gòn nhé.</p>
<h3><b><strong>2. Từ năm 1753 đến năm 1780</strong></b></h3>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone wp-image-137 size-full" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/saigonxua-n13.jpg" alt="Sài Gòn Năm Xưa" width="800" height="450" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/saigonxua-n13.jpg 800w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/saigonxua-n13-300x169.jpg 300w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/saigonxua-n13-768x432.jpg 768w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/saigonxua-n13-600x338.jpg 600w" sizes="auto, (max-width: 800px) 100vw, 800px" /></p>
<p style="text-align: center;">Tản mạn Sài Gòn</p>
<p style="font-weight: 400;">Xin kể lại những năm oanh liệt nhất để đánh dấu những kỳ công của tổ tiên ta:</p>
<p style="font-weight: 400;">Năm 1753, vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên lấn hiếp người Côn Man ở trong Nam, triều đình Huế bèn cử ông Nguyễn Cư Trinh làm quan tham mưu lo việc đánh dẹp. Ba phen thắng giặc, Cư Trinh bèn hiến kế “tàm thực” làm cho mười năm sau hoàn thành cuộc mở mang: Thủy Chân Lạp hoàn toàn về tay chúa Nguyễn ở Đàng Trong.</p>
<p style="font-weight: 400;">Bấy giờ miền rừng sác[12]hoang vu, cực nam là vùng Lòi Lạp (Gò Công), Tầm Bôn (Tân An) và vùng các cửa sông Cửu Long (Ba Thắc[13]tức vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu) và Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre), còn thuộc Chân Lạp.</p>
<p style="font-weight: 400;">Đồng thời với việc thôn tính nước Chiêm (1611-1692), chúa Nguyễn đã tiến lần xuống miền Đồng Nai phì nhiêu. Hơn một thế kỷ (1623-1739), do việc giành ngôi lẫn nhau của các vua Miên mà chúa Nguyễn lần hồi thâu phục dân Việt dần dần mở mang các đất đai: Mô Xoài[14](Bà Rịa, Biên Hòa) (1658), Sài Gòn (Gia Định) (1698), Định Tường (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh Long) (1731). Phía vịnh Xiêm La, MẠC CỬU dâng đất Hà Tiên và hòn Phú Quốc cho chúa Nguyễn từ năm 1741, sau đó con là MẠC THIÊN TỨ mở thêm bốn huyện (1739): Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu).</p>
<p style="font-weight: 400;">Đến triều Võ Vương, vua Chân Lạp Nặc Ông Thu (Sthea) nhờ chúa Nguyễn mà giữ ngôi báu ở La Bích (Lovek) (1736 &#8211; 1748). Sau Nặc Ông Thâm (Thomae), chú của Tha, thua chạy trốn bên Xiêm từ năm 1715, lại trở về đánh đuổi Nặc Ông Tha và cướp ngôi (1748) song chẳng bao lâu thì mất.</p>
<p style="font-weight: 400;">Mấy người con của Thâm tranh ngôi. Võ Vương sai Nguyễn Hữu Doãn làm thống suất đánh dẹp và lập Nặc Ông Tha làm vua trở lại. Được vài tháng, Tha bị con của Thâm là Nặc Nguyên (Ang Snguôn) đen quân Xiêm đánh đuổi (1750). Tha thua, chạy sang Gia Định cầu cứu nhưng chết ở đấy.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nặc Nguyên tranh được ngôi vua lại thường đem binh lấn hiếp người Côn Man là tàn tích dân Chiêm sang trú ngụ từ năm 1693.</p>
<p style="font-weight: 400;">Về phía Bắc, Nặc Nguyên lại thông sứ với Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) để lập mưu đánh Chúa Nguyễn quyết giành lại Thủy Chân Lạp.</p>
<p style="font-weight: 400;"> Mùa đông năm Quý Dậu (1753), Võ Vương sai ông Thiện Chính (khuyết tên)[15]làm thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh, ký lục Bố Chánh Dinh làm quan tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh đi đánh giặc Nguyên. Quân tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để làm kế khai thác.</p>
<p style="font-weight: 400;">Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông Cư Trinh với ông Thống suất chia quân tiến lên. Oâng Cư Trinh đi đến đâu, giặc quy phục đến đó; đi qua đất Tần Lê (?) ra đến Sông Lớn[16]cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lôi Lạp (Soi Rạp: Gò Công), phủ Tầm Bôn (Tân An), phủ Cầu Nam (Ba Nam), phủ Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh), bốn phủ hàng cả. Rồi chiêu phục người Côn Man để làm thanh thế.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nặc Nguyên chạy trốn gần Vĩnh Long; gặp mùa nước nổi, phải ngưng đánh phá.</p>
<p style="font-weight: 400;">Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thống suất về đồn Mỹ Tho, dẫn theo hơn vạn người Côn Man mới chiêu phục. Đến đất Vô Tà Ân (có lẽ là vùng Đồng Tháp Mười) bị quân của Nặc Nguyên đổ ra đánh úp. Quân của thống suất đi tập hậu bị mắc bụi rậm vũng lầy, không thể đến cứu viện. Ông Nguyễn Cư Trinh mới đem quân của ông đến cứu thoát hơn năm người Côn Man, vừa trai vừa gái, rồi đem về trú ở núi Bà Dinh (Bà Đen).</p>
<p style="font-weight: 400;">Nhân ông Cư Trinh hạch tấu ông Thiện Chính về tội để mất cơ nghi mà bỏ dân mới phục hàng, vua giáng ông ấy xuống chức cai đội, cho ông Trương Phúc Du thay thế.</p>
<p style="font-weight: 400;">Ông Cư Trinh với ông Phúc Du và người Côn Man đi tiên phong đến đánh hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nặc Nguyên thua, chạy trốn sang Hà Tiên nương theo Mạc Thiên Tứ, nhờ Tứ xin hộ với Chúa Nguyễn, hiến hai phủ Tân Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội, và bổ vào lệ triều cống đã bỏ ba năm về trước, cùng để xin cho về nước.</p>
<p style="font-weight: 400;">Vua không cho. Ông Cư Trinh mới dâng sớ tâu rằng:</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8220;Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá, biết nộp đất hiến của. Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích, đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi, chi bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc (Biên Hoà), rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ, rồi mới mở đất Sài Côn. Đó là cái kế &#8220;tằm ăn dâu&#8221; đó.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư còn chưa yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khỏe; phương chi từ Sài Côn đến Tầm Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trụ phòng, thực sợ chưa đủ.</p>
<p style="font-weight: 400;">Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăng chống, lấy mọi đánh rợ, cũng là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho thần xem xét tình thế, đặt lũy đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức.&#8221;</p>
<p style="font-weight: 400;">(Rút trong quyển &#8220;Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi&#8221; của hai ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật.)</p>
<p style="font-weight: 400;">Vua theo lời tâu, nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.</p>
<p style="font-weight: 400;">Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên chết, chú họ là Nặc Nhuận (Neac Ang Nhuan) làm gián đốc, xin hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để cầu được chúa Võ Vương phong làm Vua. Song không lâu, Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi (1758).</p>
<p style="font-weight: 400;">Cháu của Nặc Nhuận là Nặc Tôn, con của Nặc Nguyên, chạy sang Hà Tiên cầu cứu với Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ dâng sớ tâu qua các việc và xin phong Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Võ Vương thuận cho, sai tướng Ngũ dinh tại Gia Định hợp với Thiên Tứ lo việc ấy. Trương Phúc Du đem binh đánh dẹp, Nặc Hinh thua chạy, bị kẻ thuộc hạ giết. Hoàng tử Nặc Non cùng hoàng gia chạy trốn bên Xiêm.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nặc Tôn được Mạc Thiên Tứ đưa về nước lập làm vua, và được Võ Vương sắc phong chức Phiên Vương.</p>
<p style="font-weight: 400;">Để tạ ơn Võ Vương, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc) (1759). Rồi cắt năm phủ: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Sài Mạt (Cheal Meas), Chưng Rừm, Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ Sré Ambel đến Peam) để riêng tạ ơn Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ đều dâng cả cho chúa Nguyễn[17]. Võ Vương bèn dạy sát nhập vào trấn Hà Tiên.</p>
<p style="font-weight: 400;">Thế là vừa trọn một thế kỷ (1658 &#8211; 1759), Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuộc về Việt Nam.(Tài liệu mượn trong quyển “Nguyễn Cư Trinh” với quyển “Sãi Vãi” của hai ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, trang 45-49).</p>
<p style="font-weight: 400;">Đoạn trên kể lại công ngiệp khai mở bờ cõi của một vị tướng văn võ toàn tài là ông Nguyễn Cư Trinh. Cư Trinh lại rất có công về cuộc phòng thủ lâu dài.</p>
<p style="font-weight: 400;">Ông giỏi phương pháp “dĩ địch chế địch” nên đặt người Côn Man thủ Tây Ninh và Hồng Ngự (Châu Đốc), nay hai chỗ này còn di tích người Chàm. Chính ông Cư Trinh xin dời dinh Long Hồ lên xứ Tầm Bào, cũng thuộc tỉnh lỵ Vĩnh Long.</p>
<p style="font-weight: 400;">Về mặt thủy đạo, ông sai lập đồn hai bên sông Cửu Long gần biên giới:</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8211; Tân Châu đạo (Cù Lao Giêng) ở Tiền Giang.</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8211; Châu Đốc đạo ở Hậu Giang.</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8211; Thêm lập Đông Khẩu đạo , ở xứ Sa Đéc, để làm hậu thuẫn.</p>
<p style="font-weight: 400;">Các đạo ấy dùng binh ở Long Hồ dinh để trấn áp, giữ mặt vịnh Xiêm La, phòng Xiêm làm hỗn, Cư Trinh và Thiên Tứ đặt raKiên Giang đạo ở Rạch Giá vàLong Xuyên đạo ở vùng Cà Mau.</p>
<p style="font-weight: 400;">Ông Cư Trinh lại rất giàu sáng kiến. Ông lo tổ chức sự an ninh vùng đất mới, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ. Như thuở ấy, khúc sông Gia Định còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá khuấy ghe thương hồ (ngày trước còn để lại tàn tích “bối Ba Cụm” thuộc vùng Bình Điền, Tân Bửu, v.v&#8230;), Cư Trinh bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét.</p>
<p style="font-weight: 400;">Nguyễn Cư Trinh còn là một văn nhơn tài tử, ông thường ngâm vịnh, sang Phương Thành (Hà Tiên) nhập Chiêu Anh Các xướng họa cùng Mạc Thiên Tứ. Hai người rất là tương đắc, Thiên Tứ có ra mười bài“Hà Tiên thập cảnh vịnh ” (nay còn truyền tụng). Cư Trinh có họa đủ mười bài.</p>
<p style="font-weight: 400;">Kể lại trong Nam, đời ấy công nghiệp lớn nhất có hai ông:Nguyễn Cư Trinh vàMạc Thiên Tứ. Ông trước cầm binh ra trận, thi phú tài tình; Ông sau giỏi ngón ngoại giao và văn chương tao nhã. Cả hai mở rộng bờ cõi Miền Nam cho chúng ta được hưởng ngày rày.</p>
<p style="font-weight: 400;">Đồng thời tại Gia Định, trong nhóm người Minh Hương, có ba ông:Trịnh Hoài Đức ,Ngô Nhơn Tịnh vàLê Quang Định đều là những bực công thần có công xây dựng cõi Nam, đua nhau nâng cao nền văn hiến Việt và tận tâm giúp chúa Nguyễn thâu lại cơ nghiệp tổ tiên thống nhất giang san. Hà Tiên cóChiêu Anh Các , Gia Định cóThi hữu tam gia không kém.</p>
<p style="font-weight: 400;">Năm 1780, Mạc Thiên Tứ từ trần, không con nối hậu. Đất Hà Tiên từ đây sát nhập cơ đồ Nguyễn Chúa:</p>
<p style="font-weight: 400;"><b><strong> </strong></b></p>
<h2 style="font-weight: 400;"><b><strong>CUỘC MỞ MANG BỜ CÕI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẾN ĐÂY, KỂ NHƯ ĐÃ HOÀN THÀNH.</strong></b></h2>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-136  aligncenter" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-nam-xua1.jpg" alt="" width="427" height="278" /></p>
<p style="font-weight: 400; text-align: center;">Tản mạn Sài Gòn</p>
<p style="font-weight: 400;">[1] Lê Thánh Tôn (1460-1497); Niên hiệu:Quang Thuận (1460-1469), Hồng Đức (1470-1497)</p>
<p style="font-weight: 400;">[2] Nên gọi &#8220;Đông Phố&#8221; hay là &#8220;Giản Phố&#8221;?</p>
<p style="font-weight: 400;">a). &#8211; Danh từ &#8220;Đông Phố&#8221; đã trở nên bất hủ vì bài văn quan Tiền quản quận công Nguyễn Văn Thành tế trận vong tướng sĩ năm 1802 có câu:</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8220;Than ôi! Trời Đông Phố vận ra Sóc cảnh&#8230; &#8220;vân vân. Theo chú thích trong Quốc Văn Trích Diễm của Dương Quảng Hàm, trương 132, thì &#8220;Đông Phố&#8221; là tên cũ thành Gia Định.</p>
<p style="font-weight: 400;">b). &#8211; Theo giáo sư Nghiêm Toản, thì: Đông Phố, thực ra là &#8220;Giản Phố&#8221;,vì lẽ chữ &#8220;Giản&#8221; và chữ &#8220;Đông&#8221; viết theo chữ Hán nét gần giống nhau, chỉ khác hai chấm thay vì một nét. Truy thêm ra, thì &#8220;Giản Phố&#8221; do nơi &#8220;Giản Phố Trại&#8221; mà ra, và &#8220;Giản Phố Trại&#8221; tức là &#8220;Cambodia&#8221; do người Tàu âm ra tiếng của họ và vẫn đọc &#8220;Kan-pou-tchai&#8221;, tức &#8220;Cambodge&#8221; ngày nay vậy. Như vậy, thì đúng hơn nên gọi &#8220;Giản Phố&#8221; hơn là &#8220;Đông Phố&#8221;, nhưng cái gì cũng không mạnh hơn thông tục.</p>
<p style="font-weight: 400;">[3] a). &#8211; Chệch hay Chiệc, do &#8220;thúc&#8221; là &#8220;chú&#8221;, giọng Triều Châu. Nghĩ họ chơi gác thật, thuở ấy bắt mình kê vai kênh họ lên rất cao; &#8220;Chú Chệch&#8221;, &#8220;Thím Xẩm&#8221; (Quảng Đông gọi &#8220;thím&#8221; là &#8220;xẩm&#8221;). Rồi nào &#8220;Ông Tây&#8221;, &#8220;Bà Đầm&#8221;, thậm chí &#8220;Anh Bảy Chà&#8221;, v.v&#8230;</p>
<p style="font-weight: 400;">b).- Người Miên gọi dân Trung Hoa là &#8220;chênh&#8221;. Truy ra, có đến hai điển: &#8220;Chênh&#8221; là &#8220;Thanh&#8221; Tsing thì có đời Mãn Châu. Nếu &#8220;Chênh&#8221; do &#8220;Tsin&#8221; thì xưa đến đời Tần.</p>
<p style="font-weight: 400;">[4] Năm Quý Dậu 1753 (tức năm thứ 16 chúa Thế Tôn, Võ Vương), chúa sai Thiện chính hầu làm Cai đội và Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh là ký lục, dẫn binh năm dinh: Bình Khánh (nay Khánh Hòa, Bình Thuận), Trấn Biên (nay Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long), tựu tại Bến Nghé, nơi sau này gọi là “Đồn Dinh”. (Tài liệu theo bản dịch ra Pháp văn của học giả Gaspardone dịch từ bản chữ Hán “Gia Định thông chí” của Trịnh Hoài Đức. Bản chép tay mang số A.708 q. 9-4, fo 12 của trường Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội). Nhà học giả L. Malleret độ chừng “Đồn Dinh” ở tại chỗ góc đường Thuận Kiều giáp rạch Nhiêu Lộc. Ngày nay đường Thuận Kiều đổi lại gọi đường Lê Văn Duyệt. Còn rạch Nhiêu Lộc có phải ở gần mộ ông này, chúng tôi mới tìm thấy trong vùng đấy thuộc dinh thự của nhân viên phi trường Tân Sơn Nhất, bọc theo con đường Võ Tánh chạy dài qua hồ tắm Chi Lăng, mộ này ở khoảng giữa hai đường Võ Di Nguy và Ngô Đình Khôi trong vòng rào, ngay chỗ vừa đào một ngôi mộ xưa để mở rộng con đường Võ Tánh ( xem lại kỹ Bulletin de la Socie&#8217;te&#8217; des Etudes Indochinoises, Oct-Dec. 1935, tr. 18 &#8211; 19 )</p>
<p style="font-weight: 400;">Cũng trong tập kỷ yếu B.S.E. I. nói trên, qua trương 35, học giả Malleret viết:</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8220;&#8230; Alors le soucerain légitime dut s&#8217;enfuir à Phú Quộc Enter temps, le chef &#8220;rebelle Lư avait pris le titre de Đô Định Vương, &#8220;écrit Aubaret, c&#8217;est-àdire roi de Đon Dinh.&#8221;</p>
<p style="font-weight: 400;">Chỗ này, học giả Pháp đã lẫn lộn &#8220;Đông Định Vương&#8221; lại với &#8220;Đồn Dinh&#8221; rồi. Trương 30, ông Malleret ghi rằng theo Gia Định Thông Chí (q.4, fo 31 ms EFEO) có nói năm Gia Long thứ 10, lịnh dạy dời &#8220;Đồn Dinh&#8221; qua chợ Điều Khiển, xóm (lân) Tân Hội.</p>
<p style="font-weight: 400;">Trái lại, trong Đại Nam Nhất Thống Chí (Pháp dịch &#8220;la Ghéographie de Tu Đuc&#8221; ), thì nói Đồn Dinh &#8221; từ xóm Tân Mỹ được dời về xóm &#8220;Tân Thuận&#8221;. Tác giả, ông Malleret, kết luận &#8220;Đồn Dinh&#8221; ở trong địa phận huyện Tân Bình.</p>
<p style="font-weight: 400;">Chung quy, &#8220;Đồn Dinh&#8221; và &#8220;chợ Điều Khiển&#8221; chưa ai biết đích xác ở tại đâu.</p>
<p style="font-weight: 400;">[5] Nam gọi Mỏ Xoài.</p>
<p style="font-weight: 400;">[6] Nam gọi là Huỳnh Tấn.</p>
<p style="font-weight: 400;">[7] Theo cuốn &#8220;Souvenirs historiques&#8221; của ông Trương Vĩnh Ký thì vị quan tướng này tên &#8220;Vạn&#8221; nhưng không rõ họ gì.</p>
<p style="font-weight: 400;">[8] Chey Chetta IV.</p>
<p style="font-weight: 400;">[9] Theo &#8220;Souvernirs historiques&#8221; ông Trương Vĩnh Ký nói vì Nặc Ông Thu bất tuân điều ước nên chúa Ngãi sai Nguyễn Hữu Hào chinh phạt bắt được Ông Thu đem về Sài Gòn, đến đây người thọ bịnh từ trần, Phó Vương Miên tự vận chết theo.</p>
<p style="font-weight: 400;">[10] Nam gọi là Nguyẽn Hữu Cảnh.</p>
<p style="font-weight: 400;">[11] Vì thế, người vùng Đồng Nai cũng được gọi là “người hai huyện”. Đừng lầm với “người hai huyện” vùng Hậu Giang đồng một thuở, là người huyện Phong Phú (Cần Thơ) và huyện Đông Xuyên (Long Xuyên).</p>
<p style="font-weight: 400;">[12] Nhiều học giả viết “rừng sát”(với chữ “t” ở chót) và đinh ninh rằng trúng. Phải chịu khó tra cứu bộ Đại Nam quốc âm tự vị của ông Huỳnh Tịnh Của, trang 276 mới thấy:</p>
<p style="font-weight: 400;">“Sác”: cây nước mặn.</p>
<p style="font-weight: 400;">“Rừng sác”: rừng nước mặn (ở gần biển)</p>
<p style="font-weight: 400;">Vậy xin đính chính.</p>
<p style="font-weight: 400;">[13] Tại chợ cũ Bãi Xàu, có một ngôi cổ miếu đề “Ba Thắc cổ miếu” chung quanh cổ thọ um tùm, tương truyề đây là một địa điểm linh thính của Cổ Cao Miên gọi là Neak Ta Srock Passac _ (V.H.S)</p>
<p style="font-weight: 400;">[14] Việt Nam Sử lược Trần Trọng Kim gọi là Mỗi Xuy</p>
<p style="font-weight: 400;">[15] Có lẽ ông Nguyễn Hữu Doãn, làm thống suất đánh dẹp các con Nặc Ông Thâm bốn năm về trước (1749). Sau vì thua ở đất Vô Tà Ấn (?) bị giáng xuống chức cai đội nên bị bôi tên. Rồi sau sử chép cho là khuyết tên họ chăng?</p>
<p style="font-weight: 400;">(Chú thích trong &#8220;Sãi Vãi&#8221;, Lê Ngọc Trụ, Phạm Văn Luật, trương 45.)</p>
<p style="font-weight: 400;">[16] Sông Lớn đây có lẽ là sông Vàm Cỏ, chảy ngang qua phủ Lôi Lạp, Tầm Bôn, Ba Nam.</p>
<p style="font-weight: 400;">Ông Maybon, trong quyển “Histoire moderne du pays d’Annam”, trang 127, đề là Vàm Cỏ Tây (Vaico occidental).</p>
<p style="font-weight: 400;">[17] Năm phủ này đến đời Thiệu Trị, năm 1847, bị giao trả lại cho nước Miên (chú thích trong quyển Sãi Vãi.)</p>
[ Còn tiếp&#8230;]
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/">Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 2</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 1</title>
		<link>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/</link>
					<comments>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[sachxua]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 16 Dec 2019 16:03:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tản mạn về Sài Gòn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://sachxuasaigon.com/?p=124</guid>

					<description><![CDATA[<p>Sài Gòn không là nơi ai đó có thể yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên được. Người ta phải sống với bản, sống rất thật để thấy rằng Sài Gòn xấu xí, dở hơi và đôi khi còn vô duyên nữa. Vậy mà ai cũng nặng tình, rồi vừa xa một cái là biết [...]</p>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/">Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 1</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Sài Gòn không là nơi ai đó có thể yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên được. Người ta phải sống với bản, sống rất thật để thấy rằng Sài Gòn xấu xí, dở hơi và đôi khi còn vô duyên nữa. Vậy mà ai cũng nặng tình, rồi vừa xa một cái là biết mình yêu. Sài Gòn là nồi lẩu thập cẩm không thể ăn vội được. Phải tìm một quán thật đỉnh, thong thả ngồi xuống, nghiên cứu menu, đợi dọn lên từng thứ một, đếm chờ nước sôi, rồi mở nắp thưởng thức từng chút từng chút ấy, phải trải qua cảm giác bỏng lưỡi hay gì nữa. Và tôi nghĩ, chén cuối cùng sẽ luôn là chén ngon nhất sau khi nước đã sắc lại, đủ để bạn mang cái sự ấm ngọt ấy về nhà, thấm thấm tận mấy hôm sau.</p>
<article id="body">Hiếm khi ở Sài Gòn có thể hít thở một bầu không khí trong lành nếu không chịu khó dậy sớm. Sài Gòn nồng nhiệt trong từng hơi thở từ sáng đến tối. Đêm Sài Gòn vẫn sôi sục âm ỉ cái gì đấy để chờ mai lại hòa nhiệt với nắng ấm.Lâu dần tôi cảm thấy tự hào vì nhận ra mình và Sài Gòn có những điểm rất giống nhau. Sài Gòn nhiều khi dễ dãi, ai cũng chấp nhận, cái gì cũng được, xuề xòa đến lạ kì. Người ta tự nhiên bước chân đến đây, dễ dàng đất trời là nhà, người người là bạn bè, người thân. Đôi khi gọi nhau bằng những cái tên cô ơi, dì ơi, ngoại ơi cứ như trong một đại gia đình lớn. Ở vùng đất tứ xứ người, Sài Gòn là mảnh đất mới, là nơi người ta thương nhau vì là người Việt người Nam. Sài Gòn nhiều khi mưa nắng thất thường, làm người ta khó đoán, làm người ta hay cáu. Không phải mới đến Sài Gòn thì có thể biết về nó, muốn hiểu thì cần phải nhẫn nại, cần phải đợi lâu. Sài Gòn dở ương, vắng người những lúc lễ tết và đông vui những ngày thường.Ở Sài Gòn có quá khứ, hiện tại, tương lai. Những nếp văn hóa cũ kĩ tưởng đã biến mất từ lâu vậy mà vẫn tồn tại ở Sài Gòn như một bảo tàng sống. Những món ăn, lễ nghi tưởng đã bị xã hội hiện đại vùi lấp vẫn còn xuất hiện ở đây tái tạo lại một quá khứ đã mất. Sài Gòn có quá khứ mà người ta muốn tìm lại&#8230;Trước hết chúng ta tìm hiểu một ít về lịch sử Sài gòn thông qua tác phẩm <a href="https://sachxuasaigon.com/san-pham/sai-gon-nam-xua/">Sài Gòn Năm Xưa</a> nhé!!!</p>
<h2>Lịch sử Sài gòn trích trong tác phẩm Sài Gòn Năm Xưa.</h2>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-121 aligncenter" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-nam-xua-210x300.jpg" alt="Sài Gòn Năm Xưa" width="210" height="300" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-nam-xua-210x300.jpg 210w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/sai-gon-nam-xua.jpg 318w" sizes="auto, (max-width: 210px) 100vw, 210px" /></p>
<p>Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc &#8220;Sài Gòn&#8221; của người Việt, chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:<br />
Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại cương cuộc Nam tiến không ngừng của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:<br />
&#8211; 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi được ách Bắc thuộc, mở<br />
đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở cõi Nam.<br />
&#8211; 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị;<br />
&#8211; 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi bờ thêm hai châu Ô Lý<br />
(Thừa Thiên);<br />
&#8211; 1425, đến Thuận Hoá;<br />
&#8211; 1471, đến Quy Nhơn;<br />
&#8211; 1611, đến Phú Yên;<br />
&#8211; 1653, đến Nha Trang;<br />
&#8211; 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều đình Huế;<br />
&#8211; 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng Đồng Nai;<br />
&#8211; 1693, đến Phan Thiết;<br />
&#8211; 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn);<br />
&#8211; 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên;<br />
&#8211; 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang, dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn hiến một thời:<br />
&#8211; 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, đến đây đã hoàn thành. Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm lòng lịch sử nước nhà. Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn), từ ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là trấn an biên thuỳ, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình. Nhơn thế, một chức quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu thuế…). Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thuỷ Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an ninh. Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần, những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp &#8220;tàm thực&#8221; ấy mà mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tậnmũi Cà Mau. Sự bành trướng nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng.<br />
Nhơn đây là bài khảo cứu về căn cội đất Sài Gòn, và muốn cho đầy đủ, chúng tôi không sợ lẩn thẩn, mà thuật lại có đầu có đuôi &#8220;công cuộc mở mang bờ cõi&#8221; của tổ tiên ta trong cuộc Nam tiến, tính ra kéo dài trên tám trăm năm (từ năm 939 đến năm 1780) mới hoàn thành. Có một khoảng trên dưới một trăm năm, cần phải nhấn mạnh nhứt là khoảng từ năm 1658 đến năm 1759, tức đoạn tổ tiên ta chung đụng với người Cam Bốt, trên cõi Nam nầy. Ngày nay nước Cao Miên và nước Việt Nam là<br />
hai người bạn thân, lẽ đáng không nên khơi lại chuyện cũ. Nhưng nghĩ vì đây là lịch sử nên chúng tôi xin hết sức thận trọng, vô tư và khách quan, thuật lại như sau để đánh tan những hiểu lầm.</p>
<h3>1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753</h3>
<p>Lúc ấy đã có người Cam Bốt ở trên đất Nam nầy rồi. Nói chính đáng mà nghe, từ Huế, Chúa Hiền Vương đã từng cắt quân đi chinh phục miền Nam. Quân ta cả thắng Chàm và sau những chiến công rực rỡ, dân Việt đã có dịp chen vai thích cánh với người Khơ me, nơi những vùng biên giới cũ Chàm, kể từ năm 1658. Một điều nên nhớ kỹ, là vào thời buổi ấy, DÂN THƯA ĐẤT RỘNG, DÂN LÀM ĂN KHÔNG HẾT, việc đi khai khẩn đất hoang là thường sự và không hề sanh ra việc gì rắc rối. Tục thường ví &#8220;CHIM TRỜI CÁ NƯỚC&#8221;, ai bắt được nấy nhờ. Một điều khác cần nói rõ thêm là đất miền Nam của bán đảo Ấn Độ &#8211; Chi Na cũng không phải thiệt<br />
thọ &#8220;phần đất phụ ấm&#8221; của Khơ me. Sự thật thì dòng thổ dân tiên chiếm vùng nầy là giống Phù Nam đã bị tiêu diệt từ thế kỷ thứ VII, và có thể người Khơ Me chiếm thay người Phù Nam từ thế kỷ thứ VII, lại mấy có sự đòi hỏi tranh tụng gì? Tha hồ lúc ấy ai khai phá được khoảnh nào thì nấy làm chủ ăn hoa lợi. Và như đã nói &#8220;đất ở không hết&#8221;, tội gì tranh giành cho nhọc lòng lo, cho mệt xác. Sợ nhứt là làm như vậy, chỉ sanh oán thù, ích gì? Gương xưa tích cũ còn trước mắt sờ sờ:<br />
&#8211; Pháp quốc đã giàu mạnh, nhưng còn nhà đất Gia Nã Đại, chẳng qua lúc ấy vừa chê xa xôi, vừa chê ít hoa lợi…<br />
&#8211; Trung quốc là nước lớn, thế mà cắt đất Mã Cao để làm nhượng địa cho Bồ Đào Nha, rồi cũng cắt đứt Hương Cảng làm nhượng địa cho Anh Quốc, chung quy cũng vì thời buổi ấy hai chỗ nầy chỉ núi đá trơ trơ, toàn đất hoang vu không sanh hoa lợi, &#8220;mất&#8221; hay &#8220;bỏ&#8221; vẫn không tiếc… Nhắc lại, sau khi nhà Minh bên Trung Quốc bị nhà Mãn Châu thay thế, thì năm 1680, bọn di thần Minh triều như Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần Thắng Tài, v.v… tự xưng người &#8220;Trường Phát (tóc dài) không khứng đầu hàng Thanh triều, vì họ ghét tục dân Mãn Châu cạo đầu gióc bín (để đuôi sam như đuôi lừa). Bởi rứa, theo sử chép lại, các tướng ấy dìu dắt độ ba ngàn tinh binh trung thành với cựu trào, lướt sóng trên năm mươi, sáu mươi chiến thuyền vượt trùng dương tìm xuống miền Nam, xin đầu hàng chúa Nguyễn, vì dân Nam cũng để tóc dài và trung thành với đạo Khổng Mạnh như họ. Đứng trước tình trạng khó xử này, chúa Hiền Vương trong lòng bối rối không vừa, vì kỳ trung chúa chẳng muốn gần gụi đám vong thần bất trị ấy; nhưng với trí tinh khôn có thừa, ngoài mặt chúa giả cách niềm nở tận tình. Chúa bày tiệc khoản đãi quân sĩ nhà Minh rồi &#8220;tống khứ&#8221; họ xuống miền Đông Phố, cho họ được phép chiếm cứ vùng Đồng Nai thưở đó tuy thuộc lãnh thổ Khơ Me, nhưng Miên Vương tỏ ra không bận tâm nhiều đến vùng hoang địa ranh mức tầm ruồng nầy. Như thế, nhơn một mũi tên, chúa Nguyễn bắn được hai chim; một đàng, được lòng người Tàu vì làm cho họ có chỗ dung thân, đàng khác nhơn cơ hội, mượn tay tha nhơn, mở rộng bờ cõi một cách hoà bình, không tốn hao binh sĩ; thật là ngón ngoại giao sắc cạnh khôn bì. Nhắc lại, được lịnh Chúa Nguyễn, tướng Dương Ngạn Địch kéo quân xuống chiếm đóng vùng Mỹ Tho trên sông Tiền Giang (Mékong); còn Trần Thắng Tài, Huỳnh Tấn, và Trần An Bình thì đem bổn bộ binh mã đến chiếm cứ vùng Biên Hoà, trên con sông Đồng Nai. Vì không nói được chữ &#8220;đ&#8221; nên họ vẫn gọi &#8220;Đồng Nai&#8221; ra &#8220;Nồng Nại&#8221;.</p>
<p style="font-weight: 400;">Khi người Khơ Me đụng độ với người Tàu thì đã lấy làm bực mình vì phong tục khác xa, không dè đến khi ăn chung ở lộn với dân &#8220;duồng&#8221;, họ lại càng thêm khó chịu. Họ ngầm ghét đám dân &#8220;Đồn điền&#8221; mới.</p>
<p style="font-weight: 400;">Lần hồi, không cử động binh đao, mà người Cam Bốt (Campuchia) tự rút lui về miền thượng Lục Chân Lạp (Haut Cambodge) bỏ đất hoang Thủy Chân Lạp (Basse Cochinchine) cho mặc tình người Trung Quốc và Việt Nam tha hồ khai phá. (Cái nghiệp &#8220;hay hờn mát&#8221; và &#8220;ưa giận quàng xiên&#8221; của người Miên đến nay vẫn chưa bỏ. Tỷ dụ như lối năm 1920, dân Miên và dân Việt đua nhau khai thác xin khẩn đất hoang dọc theo kinh xáng mới đào vùng Phước Long và Vĩnh Qưới (Rạch Giá) để làm ruộng. Mỗi khi đôi bên không thuận nhau về quyền tiên chủ sở đất nào, thì người Miên thường thách đố người Việt hãy đồng lòng đem sở đất tranh chấp &#8220;hiến nạp&#8221; ngon lành cho viên chức sở tại, như vậy thì họ sẽ hết giận, báo hại quan thinh không phát tài ngang! Nhưng người Việt đâu chịu làm vậy và thường có cách khéo giải hoà với bạn Miên khỏi &#8220;làm giàu vô cớ&#8221; cho quan! Duy ngày nay, còn giận ai nữa mà Miên vẫn cất nhà xây mặt tiền vào vườn, ít chịu xây mặt ra đường cái hay ngó ra con sông tấp nập?</p>
<p style="font-weight: 400;">Nhắc lại năm Giáp Dần (1674), Chúa Hiền đã tầng sai binh xuống can thiệp vào việc nội bộ nước Miên do Nặc Ông Non cầu cứu dẹp hộ binh Xiêm. Đến khi vua Miên thấy cảnh ở Sài Gòn bị kẹp giữa hai gọng kềm &#8220;Chệc&#8221;[3], bèn cầu cứu với triều Huế, Chúa Hiền nhân cơ hội ấy để sai nha trảo xuống dàn xếp&#8230; Thêm một cơ hội may mắn đến cho triều Huế là vào năm 1688 giữa người Tàu Mỹ Tho và người Tàu Cù Lao Phố sanh ra sự bất hoà lớn. Chúa Hiền khi ấy đã mất, nhưng Ngãi vương nối ngôi không kém sự trí mưu. Huỳnh Tấn giết Dương Ngạn Địch, binh chưa lại nghỉn thì kế bị Chúa Ngãi ra tay trước, giết Huỳnh Tấn, dẹp tan đám giặc khách sót lại ở Mỹ Tho mà làm chủ tình thế hai thị trấn tân tạo Mỹ Tho và Cù Lao Phố (Biên Hoà).</p>
<p style="font-weight: 400;">Chúa thừa thắng cho binh tướng kéo rốc lên Cam Bốt tới trước thành Gò Bích, Miên Vương một mặt dẫn phi tần về thành U Đông, mặt khác sai sứ nạp biểu. Chúa Ngãi cho dân, quân về an dinh lập trại Bến Nghé. Công việc ấy gọi là “đồn dinh”[4].</p>
<p style="font-weight: 400;">Thuở đó, xứ Cam Bốt có đến hai vua :</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8211; Vua Nhứt, Chánh Vương, ngự tại thành Lo Vek (sách sử Việt âm là “La Bích” hoặc “Gò Bích” (Trương Vĩnh Ký); (trong Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trang 329, ghi “thành Long Úc”, phải Lo Vek này chăng?!)</p>
<p style="font-weight: 400;">&#8211; Vua Nhì, tức Phó Vương, đóng đo tại Prei Norkor, sau này Sài Gòn.</p>
<figure id="attachment_131" aria-describedby="caption-attachment-131" style="width: 600px" class="wp-caption aligncenter"><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-131 size-full" src="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cho-xua-saigon.jpg" alt="Chợ xưa Sài Gòn" width="600" height="350" srcset="https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cho-xua-saigon.jpg 600w, https://sachxuasaigon.com/wp-content/uploads/2019/12/cho-xua-saigon-300x175.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 600px) 100vw, 600px" /><figcaption id="caption-attachment-131" class="wp-caption-text">Chợ xưa Sài Gòn</figcaption></figure>
<p style="font-weight: 400;">Một nước hai vua, một xứ hai mặt trời, đây là một tình thế lưỡng lập vạn bất đắc dĩ, không bao giờ tồn tại được lâu. Về sau, nếu có xảy ra sự di dân Khmer tự mình bỏ Thủy Chân Lạp rút lui về Lục Chân Lạp, âu cũng vì một lẽ Chánh Vương ngầm muốn để còn một vua đặng dứt hậu hoạn về sau, một lẽ nữa, cũng tại lòng dân Miên mà cũng có tay Trời già ở trong!</p>
<p style="font-weight: 400;">Prei Norkor vào thời bấy giờ, là một thôn nhỏ trong rừng già dựa kề một đồn kiên cố, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo tèo, cột cây nóc lá, tập trung trên các gò nổng cao ráo, chung quanh là ao sình nước đọng quanh năm, sâu vô trong nữa thì toàn là rừng rú thiên nhiên đã có từ tạo thiên lập địa, không ai khai phá, đầy rẫy muỗi mòng, đỉa vắt và thú dữ: tây, tượng, hùm beo, khỉ, sấu&#8230; Prei Norkor dùng làm nơi đồn trú của Phó Vương Cao Miên (một cái gai trong mắt Chánh Vương.)</p>
<p style="font-weight: 400;">Việt Sử Trần Trọng Kim nói:</p>
<p style="font-weight: 400;">“Năm Mậu Tuất (1658), vua nước Chân Lạp mất, chú cháu tranh nhau, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai quan đem ba ngàn quân sang đánh ở Mỗi Xuy[5](nay thuộc Phúc Chánh, Biên Hòa) bắt được vua là Nặc Ông Chân đem về giam ở Quảng Bình một độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều cống và phải bênh vực người An Nam sang làm ăn ở bên ấy.</p>
<p style="font-weight: 400;">“Năm Giáp Dần (1674), nước Chân Lạp có người Nặc Ông Đài đi cầu viện nước Xiêm La để đánh Nặc Ông Nộn.</p>
<p style="font-weight: 400;">“Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh Hòa). Chúa Hiền bèn sai cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra làm hai đạo sang đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài Gòn rồi tiến quân lên vây thành Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào chết ở trong rừng. Nặc Ông Thu ra hàng. Nặc Ông Thu chính là dòng con trưởng nên lại lập làm chánh quốc vương đóng ở Long Úc, để Nặc Ông Nộn đóng ở Sài Gòn, bắt hàng năm phải triều cống.</p>
<p style="font-weight: 400;">“Năm Mậu Thìn (1688), Hoàng Tiến[6]giết Dương Ngạn Địch, rồi đem chúng đóng đồn ở Nam Khê, làm tàu, đúc súng để chống nhau với người Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu cũng đào hào đắp lũy làm kế cố thủ và bỏ không chịu thần phục chúa Nguyễn nữa.</p>
<p style="font-weight: 400;">“Bấy giờ chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Trăn sai quan đem quân[7]đi đánh dẹp, dùng mưu giết được Hoàng Tiến và bắt vua Chân Lạp[8]phải theo lệ triều cống[9].</p>
<p style="font-weight: 400;">Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính[10]làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố (Giản Phố) ra làm dinh, làm huyện, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long và xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình[11]Đặt Trấn Biên dinh (tức Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (tức Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm xã Thanh Hà: những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm xã Minh Hương. Những người ấy đều thuộc về sổ bộ nước ta”.(Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trương 329-330).</p>
<p>Một chút Tản mạn Sài Gòn!!!</p>
<h3>[còn tiếp&#8230;]</h3>
</article>
<p>Bài viết <a href="https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/">Tản mạn về Sài Gòn &#8211; Phần 1</a> đã xuất hiện đầu tiên vào ngày <a href="https://sachxuasaigon.com">sachxuasaigon.com</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://sachxuasaigon.com/tan-man-ve-sai-gon-phan-1/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
